CHIA TÀI SẢN CHUNG TRONG THỜI KỲ HÔN NHÂN

41

Để đảm bảo cuộc sống chung vợ chồng khi quan hệ hôn nhân được xác lập đòi hỏi cần có khối tài sản chung vợ chồng để đáp ứng được nhu cầu vật chất và tinh thần của vợ chồng và chăm sóc con cái. Theo tinh thần Điều 33 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 thì tài sản chung của vợ chồng là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, trên thực tế để đáp ứng nhu cầu kinh doanh riêng cũng như để đảm bảo quyền sở hữu cá nhân theo qui định tại điều 32 Hiến pháp năm 2013, Luật hôn nhân và gia đình tiếp tục thừa nhận và qui định phân chia tài sản chung vợ chông trong thời kỳ hôn nhân.

Hình thức phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân.

Hiện nay theo qui định tại khoản 2 điều 38 Luật hôn nhân và gia đình “thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản, văn bản này phải được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo qui định pháp luật”. Như vậy, việc vợ chồng chia tài sản phải được lập thành văn bản đồng thời cả hai vợ chồng phải đến phòng công chứng để công chứng văn bản này.

Bên cạnh đó, khi vợ chồng có nguyện vọng phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng không thỏa thuận được thì theo qui định tại khoản 3 Điều 38 Luật hôn nhân gia đình vợ chồng có thể yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung vợ chồng. Khi đó Quyết định hoặc Bản án về việc phân chia tài sản chung đó được xem như hình thức hợp pháp của việc chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân.

Thời điểm có hiệu lực của việc phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân.

Theo qui định tại điều 39 Luật Hôn nhân gia đình, thời điểm có hiệu lực của việc phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân như sau:

–         Nếu việc phân chia tài sản được vợ chồng thỏa thuận và lập thành văn bản thì thời điểm có hiệu lực của việc phân chia do vợ chồng thỏa thuận và ghi trong văn bản, nếu văn bản thỏa thuận không ghi rõ thời gian cụ thể thì thời điểm có hiệu lực tính từ ngày vợ chồng lập văn bản thỏa thuận về việc phân chia.

–         Trường hợp Tòa án chia tài sản thì thời điểm có hiệu lực của việc phân chia là thời điểm Bản án, Quyết định của Tòa án có hiệu lực.

Lưu ý: trong trường hợp tài sản được phân chia mà theo qui định pháp luật giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc phân chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm tài sản phân chia đó tuân theo hình thức mà pháp luật qui định.

Hậu quả của việc phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân.

Theo qui định tại Điều 40 Luật Hôn nhân gia đình và Điều 14 NDD126/2014/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hôn nhân gia đình thì kể từ ngày việc phân chia tài sản chung có hiệu lực, chế độ tài sản vợ chồng xác định như sau:

–         Tài sản không chia vẫn là tài sản chung vợ chồng, việc phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định.

–         Phần tài sản chung được chia; hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung được chia; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng khác là tài sản riêng của người đó, trừ trường hợp có thỏa thuân khác.

–         Từ thời điểm có hiệu lưc của phân chia tài sản, nếu tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng mà không xác định được đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh của vơ chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng thì tài sản đó là tài sản chung vợ chồng.

–         Thỏa thuận về việc phân chia tài sản không làm thay đổi quyền và nghĩa vụ về tài sản xác lập trước thời điểm phân chia tài sản có hiệu lực. Cụ thể quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ban phát sinh trước thời điểm việc phân chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Các trường hợp chia tài sản chung bị vô hiệu.

Việc phân chia tài sản là quyền tự do của vợ chồng, tuy nhiên việc phân chia tài sản trên bị vô hiệu trong các trường hợp sau đây:

– Ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của gia đình; quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

– Nhằm trốn tránh các nghĩa vụ: nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; nghĩa vụ bồi   thường thiệt hại; nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản; nghĩa vỵ trả nợ cho cá nhân, tổ chức; nghĩa vụ nộp thuế hoặc nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước; Nghĩa vụ khác về tài sản theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình, Bộ luật dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Comments

comments

You might also like More from author